26 thg 7, 2017

Một số thuật ngữ về AI (Artificial Intelligence)



AI (Artificial Intelligence):
Hầu như ai cũng biết có nghĩa là “trí tuệ nhân tạo”. Ok, bạn hiểu đúng rồi đấy, không cần giải thích gì thêm. Nói chung AI là khả năng tự đánh giá, tự đưa ra quyết định của máy móc mà không cần sự điều khiển trực tiếp từ con người. Và AI là một khái niệm rộng không bị giới hạn bởi các đặc trưng kỹ thuật.
Machine Learning (Máy học): Là khả năng học hỏi của máy móc. Cũng nằm trong số những kỹ thuật AI, điểm đặc trưng của machine learning là khả năng tiếp nhận dữ liệu và tự học. Và cùng với việc áp dụng các kỹ thuật mạng nơ-ron nhân tạo (artificial neural networks), machine learning mở ra cho máy móc khả năng thấu hiểu những dữ liệu từ thế giới thực thông qua các khả năng nhận diện, đánh giá, phán đoán với tính chính xác tương đối.

Deep Learning: Là một mảng chuyên sâu của machine learning với đặc thù khai thác mạng nơ-ron nhân tạo tự học từ những tập dữ liệu đầu vào cực lớn và trong quá trình học nó tự nhận biết những điểm đặc trưng và không ngừng tự cập nhật và thay đổi những nhận thức đó.

Data Mining: Việc khai thác dữ liệu, mục đích để trích xuất ra những thông tin có giá trị phục vụ nghiên cứu, khảo sát và đánh giá các vấn đề tiềm năng đang nằm trong một khối dữ liệu nào đó.

Big Data (Dữ liệu lớn): Những dữ liệu lưu trữ về người dùng của Google là dữ liệu lớn. Dữ liệu của mạng xã hội Facebook là dữ liệu lớn. Trên thực tế phải gọi là siêu lớn thì mới đúng. Và big data chỉ thực sự nổi cộm trong giai đoạn bùng nổ mạng xã hội. Facebook, Google là những công ty công nghệ có quá nhiều dữ liệu của người dùng. và họ đặt ra những cơ hội mới để khai thác những dữ liệu này để hình thành nên những thế mạnh công nghệ mới. Khi chúng ta có những khối dữ liệu lớn thì các kỹ thuật data mining cũng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Sensor (Cảm biến): Là các loại thiết bị điện tử có nhiệm vụ tiếp nhận một số thông tin từ thế giới thực chuyển thành tín hiệu. Có rất nhiều các loại cảm biến, từ cảm biến nhiệt độ, cảm biến độ ẩm, cảm biến gia tốc, cảm biến âm thanh, cảm biến dòng không khí, cảm biến ánh sáng, cảm biến ô xy,… camera trên điện thoại của các bạn cũng là một loại cảm biến. Có rất nhiều loại cảm biến, đây chính là phương tiện giúp AI quan sát thế giới.

10 thg 6, 2017

Big Data: Cơ hội và thách thức với ngân hàng

Big Data (dữ liệu lớn) là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp dữ liệu rất lớn, rất phức tạp và chứa rất nhiều thông tin quý giá. Việc trích xuất thành công Big Data sẽ giúp ích cho việc kinh doanh, nghiên cứu khoa học... trong đó đặc biệt là hoạt động tài chính - ngân hàng.



Tiềm năng to lớn


Qua thống kê và tổng hợp cho thấy, Big Data được hình thành chủ yếu từ 6 nguồn:

- Dữ liệu hành chính (phát sinh từ chương trình của một tổ chức, có thể là Chính phủ hay phi Chính phủ). Ví dụ, hồ sơ y tế điện tử ở bệnh viện, hồ sơ bảo hiểm, hồ sơ ngân hàng...

- Dữ liệu từ hoạt động thương mại (phát sinh từ các giao dịch giữa hai thực thể). Ví dụ, các giao dịch thẻ tín dụng, giao dịch trên mạng, bao gồm cả từ các thiết bị di động…

- Dữ liệu từ các thiết bị cảm biến như thiết bị chụp hình ảnh vệ tinh, cảm biến đường, cảm biến khí hậu…

- Dữ liệu từ các thiết bị theo dõi, ví dụ theo dõi dữ liệu từ điện thoại di động, GPS.

- Dữ liệu từ các hành vi, ví dụ như tìm kiếm trực tuyến, đọc các trang mạng trực tuyến...

- Dữ liệu từ các thông tin về ý kiến, quan điểm của các cá nhân, tổ chức, trên các phương tiện thông tin xã hội.

Khai thác Big Data là cần thiết và trở thành xu hướng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động này có thể tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh doanh. Đặc biệt đối với các ngân hàng, dữ liệu từ Big Data có thể sử dụng để tiếp cận khách hàng, thông qua các kênh phù hợp.

Tốc độ phát triển và hội nhập với các xu hướng công nghệ của Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Với hơn 30 triệu người dùng Internet, hơn 15 triệu người dùng Mobile Internet cho thấy Việt Nam đứng trước cơ hội lớn về khai thác Big Data. Đặc biệt giai đoạn 2016 - 2020, xu hướng sử dụng Smartphone và lượng người dùng Internet 3G, 4G dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh. Bên cạnh đó, các dịch vụ cung cấp nội dung trên nền mạng viễn thông (OTT - Over the top) và truyền thông xã hội đang đóng góp hơn 80% phương thức giao tiếp online, video online và nội dung số trên mobile. Điều này sẽ biến Việt Nam là một kho “vàng” dữ liệu vô cùng lớn cho việc ứng dụng Big Data.

Cơ hội và thách thức


Các ngân hàng đều nhận ra rằng Big Data có thể mang lại sự thay đổi lớn trong hoạt động kinh doanh, quản lý của ngân hàng.

Để sớm đạt được mục tiêu ứng dụng Big Data, ngân hàng cần xây dựng chiến lược và lộ trình quản lý và khai thác tài sản dữ liệu, xây dựng nền tảng hạ tầng về dữ liệu (Data warehouse, BI, MDM) và xây dựng chính sách quản lý dữ liệu khoa học và hiệu quả.

Tiếp cận, nghiên cứu và khai thác về Big Data sẽ mang đến nhiều lợi ích cho ngân hàng trong kinh doanh như: Tiết giảm chi phí; tăng thời gian phát triển và tối ưu hóa sản phẩm; đồng thời hỗ trợ ban lãnh đạo, cán bộ ngân hàng đưa ra những quyết định đúng và hợp lý hơn; tiết kiệm thời gian xử lý thông tin của khách hàng và phòng chống rủi ro gian lận…

Tuy nhiên, để triển khai các giải pháp khai thác Big Data, các ngân hàng cũng gặp không ít thách thức về tài chính; chính sách, quy định của luật pháp về truy cập và sử dụng dữ liệu; trình độ khai thác và quản lý dữ liệu; hạ tầng công nghệ thông tin… Mặc dù Big Data đang có tác động sâu sắc đến chiến lược kinh doanh, marketing của Ngành Tài chính - Ngân hàng, nhưng nếu không có các công nghệ thích hợp, kiến thức và áp dụng thực tế hiệu quả, thì sẽ rất khó để các ngân hàng tối đa hóa được những lợi ích tiềm năng của Big Data.

6 thg 6, 2017

Quy định mới về chuyển nhượng tên miền .VN

Từ tháng 6 này, việc chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet quốc gia Việt Nam (.VN) sẽ chính thức được tiếp nhận và xử lý tại nhà đăng ký đang quản lý.

Chính thức cho phép triển khai chuyển nhượng tên miền .VN từ tháng 6/2017
Việc chuyển nhượng tên miền sẽ được thực hiện mà vẫn giữ nguyên được các mốc thời gian (ngày đăng ký và ngày hết hạn) của tên miền.

Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT hướng dẫn chi tiết các nội dung về điều kiện, thủ tục chuyển nhượng đã có hiệu lực từ 15/8/2016, nhưng do thời điểm đó chưa quy định về thuế chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền nên chưa triển khai được. Điều kiện cần đã có nhưng điều kiện đủ thì còn để ngỏ.

Hiện tại, Bộ Tài chính đã bổ sung quy định cụ thể cho điều khoản quan trọng này và chúng ta đã có thể bắt đầu thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet quốc gia Việt Nam (.VN).

Các bước cơ bản để thực hiện chuyển nhượng QSD như sau:


Bước 1: Các tổ chức, cá nhân xem xét điều kiện về tên miền và bên nhận chuyển nhượng trước khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền chuyển nhượng.

Bước 2: Hoàn thiện hồ sơ chuyển nhượng theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT .

Bước 3: Nộp hồ sơ chuyển nhượng tại Nhà đăng ký đang quản lý tên miền chuyển nhượng.

Bước 4: Nhà đăng ký kiểm tra, xem xét và thông báo kết quả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền tới các bên tham gia chuyển nhượng.

Bước 5: Nộp thuế chuyển nhượng.

Bước 6: Các bên tham gia chuyển nhượng hoàn thiện thủ tục đăng ký lại tên miền chuyển nhượng.

Bước 7: Nhà đăng ký phối hợp với Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) để thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật để chuyển quyền sử dụng tên miền từ bên chuyển nhượng cho bên nhận chuyển nhượng.

6 thg 5, 2017

Dữ liệu sẽ trở thành tài nguyên quan trọng nhất thế giới?

Bộ năm FAMGA (Google, Amazon, Apple, Facebook và Microsoft) của ngành CNTT đã trở thành 5 công ty có giá trị vốn hóa nhất thế giới.

Trong lịch sử kinh tế, đôi lúc lại có một loại hàng hoá mới xuất hiện, tạo ra một ngành công nghiệp phát triển nhanh và nhiều lợi nhuận, khiến chính phủ phải can thiệp để kiềm chế những doanh nghiệp lớn.

Cách đây một thế kỷ, loại hàng hóa đó chính là dầu mỏ. Giờ đây, đang có nhiều mối quan ngại tương tự xuất hiện xung quanh dữ liệu, vốn là thứ dầu mỏ của kỷ nguyên số. 5 tập đoàn CNTT khổng lồ Alphabet (công ty mẹ của Google), Amazon, Apple, Facebook và Microsoft dường như đã trở thành một thế lực không thể ngăn cản được, còn được gọi là "Bộ năm đáng sợ" (Frightful Five) hay FAMGA.

Đây là 5 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất trên thế giới. Chỉ trong quý I/2017, tổng lợi nhuận ròng của nhóm này là hơn 25 tỷ USD. Amazon thu về một nửa số tiền chi tiêu trực tuyến ở Mỹ, còn Google và Facebook chiếm gần như tất cả tăng trưởng doanh thu trong quảng cáo số ở Mỹ năm ngoái.

Sự trỗi dậy của nhóm FAMGA đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt top 5 của thị trường chứng khoán so với cách đây 11 năm.


Sự thống trị này của FAMGA đã làm nảy sinh các lời kêu gọi nên chia tách các công ty này ra, như trường hợp của Standard Oil vào đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, khổng lồ không phải là một cái tội. Sự thành công của những doanh nghiệp này đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Rất ít người muốn sống mà không có công cụ tìm kiếm của Google, dịch vụ giao hàng trong một ngày của Amazon hoặc những cập nhật tin tức trên Facebook.

Nếu áp dụng các tiêu chuẩn chống độc quyền thông thường thì các công ty này cũng không mắc phải điểm nào. Thay vì tận dụng thị phần lớn để ép giá người tiêu dùng, nhiều dịch vụ của họ lại được cung cấp hoàn toàn miễn phí (để đổi lại dữ liệu từ người dùng). Và sự trỗi dậy của những công ty mới nổi như Snapchat cho thấy những doanh nghiệp mới tham gia thị trường vẫn có thể tạo ra chỗ đứng.

Nhưng chúng ta vẫn có nhiều lý do để lo lắng. Việc các công ty Internet kiểm soát dữ liệu mang lại cho họ sức mạnh to lớn. Những quan điểm về cạnh tranh hiện nay, vốn xuất phát từ thời đại dầu lửa, đã trở nên lỗi thời trong cái gọi là "nền kinh tế dữ liệu". Đây là lúc để thay đổi tư duy.

Số lượng tự thân nó cũng là một chất lượng


Những điều gì đã thay đổi trong một thập kỷ qua? Điện thoại thông minh và internet đã làm dữ liệu trở nên phong phú, phổ biến và có giá trị hơn rất nhiều. Cho dù bạn đang chạy, xem truyền hình hay thậm chí chỉ ngồi trên xe hơi, hầu như mọi hoạt động của bạn đều tạo ra dấu vết số - nguyên liệu thô để tạo ra dữ liệu. Khi các thiết bị từ đồng hồ đến ôtô đều được kết nối Internet, lượng dữ liệu ngày càng tăng: có một số ước tính rằng một chiếc xe tự lái sẽ tạo ra 100 gigabyte mỗi giây.

Trong khi đó, các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo (AI) cũng giúp tạo ra nhiều giá trị hơn từ dữ liệu. Các thuật toán có thể dự đoán khi nào khách hàng sẵn sàng mua một món hàng, một động cơ phản lực cần được bảo trì hoặc một người có nguy cơ mắc bệnh. Những gã khổng lồ về thiết bị công nghiệp như GE và Siemens bây giờ cũng tự xem mình là những công ty dữ liệu.

Việc gia tăng lượng dữ liệu làm thay đổi bản chất của cạnh tranh. Những gã khổng lồ công nghệ luôn được lợi từ hiệu ứng mạng (network effect): càng có nhiều người sử dụng Facebook, thì nó sẽ càng trở nên hữu ích đối với những người khác. Việc ứng dụng dữ liệu sẽ tạo ra thêm nhiều hiệu ứng mạng nữa: Bằng cách thu thập thêm dữ liệu, một công ty dễ dàng cải tiến sản phẩm, thu hút thêm người dùng, tạo ra nhiều dữ liệu hơn,...

Nếu hãng xe Tesla càng thu thập được nhiều dữ liệu hơn từ những chiếc xe tự lái, thì những chiếc xe này sẽ càng hoạt động hiệu quả hơn. Đây là một phần nguyên nhân vì sao mà hãng Tesla dù chỉ bán được 25.000 chiếc ô tô trong quý I/2017 nhưng lại có giá trị vốn hóa cao hơn GM với doanh số 2,3 triệu chiếc. Những bộ cơ sở dữ liệu khổng lồ có thể tạo thành những thành trì vững chắc bảo vệ giá trị của doanh nghiệp.

Internet of things (IoT) làm cho lượng dữ liệu được tạo ra trên toàn cầu tăng trưởng theo cấp số nhân


Việc có trong tay lượng lớn dữ liệu cũng là một cách bảo vệ các công ty khỏi sự cạnh tranh với các đối thủ khác. Tính cạnh tranh trong ngành công nghiệp công nghệ cao chỉ có thể được bảo đảm, nếu vẫn còn tồn tại khả năng cho phép những công ty mới nổi lật đổ những gã khổng lồ, hoặc có những công nghệ mới làm thay đổi hoàn toàn luật chơi. Nhưng cả hai khả năng trên ngày cảng ít xảy ra hơn trong thời đại dữ liệu.

Hệ thống giám sát và thu thập dữ liệu của những doanh nghiệp CNTT khổng lồ bao trùm lên hết cả nền kinh tế: Google có thể nhìn thấy những gì mọi người tìm kiếm, Facebook biết những gì họ chia sẻ, Amazon biết những gì họ mua. Những công ty này cũng sở hữu luôn các chợ ứng dụng, hệ điều hành và cho những công ty khởi nghiệp thuê lại hệ thống đám mây của họ. Họ có một “đôi mắt của Chúa" để biết được hoàn toàn các hoạt động trong thị trường. Họ có thể nhìn thấy khi nào một sản phẩm hoặc dịch vụ mới bắt đầu thu hút sự chú ý, cho phép họ sao chép lại nó hoặc đơn giản là mua lại luôn những công ty có khả năng trở thành đối thủ. Việc Facebook bỏ ra 19 tỷ USD để mua lại WhatsApp, một ứng dụng nhắn tin với chưa đầy 60 nhân viên, được xem một vụ sáp nhập nhằm loại bỏ các đối thủ tiềm năng (shoot-out acquisition). Như vậy, dữ liệu có thể làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường.

Thế thì việc chống độc quyền cần phải thay đổi ra sao?


Bản chất của dữ liệu làm cho các biện pháp chống độc quyền của quá khứ trở nên kém hiệu quả. Việc tách một công ty như Google thành năm công ty con (Googlets) sẽ không ngăn chặn được hiệu ứng mạng từ các công ty này: tới một lúc nào đó, một trong số họ sẽ trở lại thành một người khổng lồ như xưa. Việc thay đổi cách tư duy chống độc quyền là rất cần thiết, và hiện đang có hai ý tưởng nổi bật hơn hẳn.

Ý tưởng thứ nhất là các cơ quan chống độc quyền cần phải chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp cuối thế kỷ 19 sang kỷ nguyên số của thế kỷ 21. Ví dụ, khi xem xét một vụ sáp nhập, các cơ quan này thường quan tâm đến quy mô của các doanh nghiệp để quyết định khi nào cần can thiệp. Bây giờ họ cần phải tính đến khối dữ liệu của các công ty khi đánh giá tác động của một giao dịch M&A.

Giá mua cũng có thể là tín hiệu cho thấy bên mua đang muốn ngăn chặn một mối đe dọa mới. Ví dụ, việc Facebook sẵn sàng vung ra gần 20 tỷ USD cho WhatsApp, dù công ty này chưa có nhiều doanh thu, sẽ là một dấu hiệu về hành vi "bóp chết cạnh tranh". Các cơ quan chống độc quyền cũng cần phải ứng dụng dữ liệu hiệu quả hơn, ví dụ bằng cách sử dụng phương pháp mô phỏng để săn lùng việc các thuật toán dàn xếp giá cả, hoặc xác định cách tốt nhất để thúc đẩy cạnh tranh.

Ý tưởng thứ hai là giảm bớt quyền kiểm soát dữ liệu của các tập đoàn lớn, và tăng thêm quyền lực cho người dùng. Các công ty có thể buộc phải tiết lộ cho người tiêu dùng về những thông tin mà họ đang nắm giữ, và họ kiếm được bao nhiêu tiền từ nó.

Các chính phủ có thể khuyến khích sự xuất hiện của các dịch vụ mới bằng cách mở cửa kho dữ liệu mà họ đang quản lý, hay đóng luôn vai trò quản lý những phần quan trọng của nền kinh tế dữ liệu như đang làm với các hệ thống cơ sở hạ tầng. Ấn Độ đã làm điều này với hệ thống căn cước số Aadhaar. Chính phủ cũng có thể yêu cầu các tập đoàn phải chia sẻ lại một số loại dữ liệu nhất định, với sự đồng ý của người dùng - Châu Âu đang yêu cầu các ngân hàng phải cho phép các bên thứ ba có thể tiếp cận dữ liệu khách hàng của họ.

Việc tăng cường chống độc quyền cho thời đại thông tin là chuyện không dễ dàng. Nó sẽ gây ra những rủi ro mới: ví dụ, việc chia sẻ dữ liệu nhiều hơn có thể đe dọa đến sự bảo mật thông tin cá nhân. Nhưng nếu các chính phủ không muốn một nền kinh tế dữ liệu bị thống trị bởi một vài tập đoàn khổng lồ, họ sẽ phải hành động sớm trước khi quá muộn.


Theo Hanoi Times

10 thg 8, 2016

Bảng vàng Artificial Intelligence 2016

Amazon. Sau 4 năm đẩy mạnh AI (Artificial Intelligence), hơn 1.000 người đang tập trung cho dự án trợ lý thông minh Alexa, hỗ trợ cho nhóm sản phẩm Echo và có thể được các bên thứ ba nhúng vào các thiết bị của họ. Các nhà phát triển bên ngoài có thể dạy cho Alexa “các kỹ năng” mới.

Apple. Công ty tiên phong trong lĩnh vực trợ lý kỹ thuật số với Siri, ứng dụng cho phép người dùng làm những việc như tìm kiếm trong hình ảnh, đặt chế độ nhắc nhở và chỉ dẫn đường đi. Apple đang bận tăng cường khả năng của Siri khi tìm cách bắt kịp các đối thủ hiện đã có những bước nhảy vọt. Dư luận rất kỳ vọng Apple sẽ sớm mở Siri cho các nhà phát triển bên thứ ba.

Facebook. Nhóm nghiên cứu AI tập trung vào trợ lý ảo “M” và “bot” hội thoại thông minh xây dựng cho Messenger, đưa vào lĩnh vực hiểu ngôn ngữ, dịch thuật và tầm nhìn điện toán. Hơn 1/4 số kỹ sư đang tập trung vào xương sống AI của công ty.

Microsoft. Nhóm nghiên cứu AI và học máy đã tạo ra “các dịch vụ nhận thức” và “khung ‘bot’” cho phép các bên thứ ba sử dụng các công cụ được AI hỗ trợ và tích hợp AI vào các dịch vụ điện toán đám mây Azure của họ.

28 thg 9, 2012

Một số quy tắc cơ bản về bảo mật website

Bảo mật là yêu cầu bắt buộc đối với một website. Là người quản trị website, bạn cần có những phương thức bảo vệ phù hợp. Dù vậy, một số quy tắc bảo mật website cơ bản bên dưới sẽ giúp bạn chủ động phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra sự cố.


1. Đặt mật khẩu mạnh

Thay đổi mật khẩu định kỳ là việc cần thực hiện trước tiên. Đây là quy tắc cơ bản giúp tăng cường bảo mật cho hệ thống máy chủ. Mật khẩu không chỉ bắt buộc thay đổi sau khi xảy ra sự cố mà cần phải thay đổi thường xuyên, tốt nhất là định kỳ mỗi tháng một lần. Một mật khẩu mạnh và có tính an toàn cao phải được kết hợp giữa chữ, số và các ký tự đặc biệt đồng thời phải dễ nhớ để không phải ghi chú vào sổ tay hoặc máy tính. Mỗi tài khoản nên có mật khẩu riêng và nếu dùng chung thông tin đăng nhập cho nhiều trang web khác nhau, bạn phải chắc chắn thay đổi cho tất cả chúng.

Tham khảo thêm cách tạo và nhớ mật khẩu tại www.pcworld.com.vn/A1011_120 hoặc tại http://www.kaspersky.com/passwords

2. Cập nhật bản sửa lỗi

Các cuộc tấn công mạng thường có xu hướng khai thác lỗi hoặc lỗ hổng bảo mật trong các phần mềm để xâm nhập máy tính khi người dùng truy cập đến những website bị nhiễm virus hoặc mã độc (malware nói chung). Máy tính và website sẽ an toàn hơn khi hệ điều hành và các ứng dụng thường xuyên được cập nhật bản sửa lỗi, khắc phục lỗ hổng bảo mật. Điều này sẽ làm giảm nguy cơ tấn công nhằm vào việc khai thác dữ liệu.

Tham khảo chi tiết các lỗ hổng bảo mật dễ bị tấn công tại http://cve.mitre.org/

3. Sao lưu nội dung website

Ngoài việc sao lưu (backup) cơ sở dữ liệu hàng ngày thì việc sao lưu các nội dung khác của website cũng là việc cần thực hiện thường xuyên. Một bản sao lưu website đầy đủ sẽ giúp bạn tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp máy tính hoặc website bị nhiễm malware.

4. Chủ động kiểm tra malware

Đừng phó mặc việc bảo vệ cho các bộ phần mềm bảo mật. Chủ động quét kiểm tra malware ngay cả khi máy tính (dường như) vẫn hoạt động bình thường theo định kỳ. Đây cũng là cách bảo vệ website và máy tính hiệu quả.

5. Quan tâm bảo mật máy tính

Rất nhiều malware sử dụng phương thức tấn công “drive-by download” thông qua website. Hầu hết các cuộc tấn công kiểu này đều “cắm” các khung nội dung (iframe) ẩn trên các website hợp pháp. Khi người dùng truy cập, họ sẽ bị chuyển hướng đến trang chứa malware và qua việc khai thác lỗ hổng, các thành phần plug-in của trình duyệt để từ đó lây nhiễm vào máy tính người dùng. Sử dụng phần mềm bảo mật, cập nhật các miếng vá, bản sửa lỗi HĐH và các ứng dụng thông qua tính năng auto update sẽ giữ máy tính luôn “khỏe mạnh”.

6. Tăng cường bảo mật máy chủ

Nếu đang quản trị máy chủ, bạn đọc cần chú ý đến cấu hình của máy để bảo đảm mức độ an toàn nhất có thể. Chẳng hạn loại bỏ những phần mềm không dùng đến. Tắt các dịch vụ (service) và module không cần thiết. Thiết lập chính sách phù hợp với từng người dùng hoặc nhóm người dùng. Thiết lập quyền truy cập/hạn chế truy cập vào các tập tin và thư mục nhất định. Cấm việc duyệt thư mục trực tiếp. Kiểm tra tập tin ghi nhận hoạt động và lưu ý các hành vi đáng ngờ. Dùng giao thức https thay cho giao thức mặc định http để bảo mật truy cập tới website. Chỉ sử dụng máy tính với tài khoản quản trị (administrator) khi cần thiết sẽ giảm thiểu thiệt hại khi có vấn đề xảy ra.

PCWorld VN

10 thg 10, 2011

DRED tập trung vào nền tảng mua sắm trực tuyến

Như một phần trong kế hoạch phát triển các dịch vụ trực tuyến,  trong thời gian tới DRED tập trung xây dựng các cửa hàng trực tuyến đa dạng nhằm khai thác tiềm năng của kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông tin và Internet.

Theo đó, chúng tôi đã khởi động chương trình nhận dạng trực tuyến trên nền tảng thương mại D.commerce.

Chúng tôi tin rằng công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi các phương thức thương mại trong vòng 3 năm tới, thậm chí thay đổi hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đã trải qua trong 15 năm qua. Điều này sẽ tạo ra các cơ hội toàn cầu cho các nhà phát triển và giới thương gia.

Nền tảng D.commerce của DRED sẽ cho phép các thương gia cùng các nhà phát triển độc lập xây dựng các phương thức hiệu quả và sáng tạo để kiểm tra các trang web, kho hàng, tính toán thuế và các lĩnh vực khác để có thể quản lý cửa hàng trực tuyến của họ.

Song song với D.commerce chúng tôi phát triển thêm một ứng dụng nhỏ D.access sẽ cho phép người sử dụng Internet mua sắm trên các gian hàng này bằng cách sử dụng tên đăng nhập và mật khẩu của họ từ ứng dụng này. Với D.access, khách hàng sẽ mất ít thời gian hơn để điền thông tin cần thiết, đồng thời sẽ có nhiều thời gian hơn để mua hàng và lựa chọn các sản phẩm ưng ý.

Theo đó chúng tôi cũng dự đoán, thị trường bán lẻ toàn cầu sẽ đạt giá trị khoảng 10.000 tỷ USD vào năm 2013.

15 thg 5, 2011

DRED với chiến lược “hạ tầng hội tụ” cho doanh nghiệp

Với quan niệm “công nghệ là chìa khóa xây dựng một doanh nghiệp thành công”, DRED đang nỗ lực cung cấp cho khách hàng các giải pháp CNTT trọn gói.

CNTT đang thay đổi rất lớn, khái niệm về “kết nối” cũng thay đổi nhiều với xu hướng di động ngày càng cao. Những thực tế đó đang tác động đến mô hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Với khái niệm “hạ tầng hội tụ”, DRED muốn đề cập đến một hạ tầng về CNTT có khả năng đáp ứng được tức thời mọi sự thay đổi của mô hình kinh doanh, của công nghệ, từ đó, tác động đến cả cách làm việc của nhân viên. Những doanh nghiệp có khả năng thích ứng theo mô hình này được gọi là “instant on enterprise” (doanh nghiệp tức thì).

Khó khăn của các doanh nghiệp hiện nay là nguồn nhân lực về CNTT có hạn; quy trình quản lý ở mỗi doanh nghiệp là khác nhau; chi phí đầu tư cho CNTT hữu hạn trong khi tổn thất nhiều chi phí do hệ thống gặp sự cố... Từ thực tế này, DRED đưa ra khái niệm “hạ tầng hội tụ” với các hệ thống máy chủ, thiết bị lưu trữ, hệ thống mạng, nguồn điện và thiết bị làm mát, hệ thống quản trị… được thiết kế mang tính đồng nhất cao, giúp doanh nghiệp dễ quản lý, dễ triển khai, thuận tiện khi đầu tư từng phần.

Một hệ thống “hạ tầng hội tụ” phải đáp ứng được yêu cầu: kết nối mọi người, mọi thứ lại với nhau; tất cả tài nguyên đều có thể được truy xuất ngay lập tức khi cần; hệ thống CNTT phải đồng nhất với hoạt động kinh doanh và phục vụ kinh doanh. Hiện nay, các dịch vụ do DRED cung cấp đều đáp ứng các tiêu chí này.

18 thg 3, 2011

DRED đẩy mạnh dịch vụ điện toán mây tại Việt Nam

Vai trò các giám đốc CNTT (CIO) ngày nay rất quan trọng: họ vừa là người xây dựng, vừa là người trung gian. Nếu mua máy chủ, mua phần mềm ứng dụng, cài đặt các phần mềm quản lý như Microsoft Exchange, ERP… thì rất có thể họ sẽ không tối ưu hết tài nguyên, nguồn lực đã đầu tư. Từ đó, gây lãng phí rất lớn.

Tuy nhiên, nếu ứng dụng công nghệ điện toán mây thì các CIO có thể sử dụng mọi nguồn lực một cách tối ưu: truy xuất tài nguyên theo yêu cầu qua hạ tầng mạng, cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người dùng, chỉ trả chi phí đúng với nhu cầu sử dụng. Đây là một hệ thống hạ tầng mở, co dãn được nên doanh nghiệp có thể dùng theo yêu cầu, mở rộng dễ dàng, dùng mọi lúc mọi nơi.

Ngày nay, tất cả mọi thứ như điện thoại di động, máy tính đều có thể kết nối, tương tác một cách dễ dàng nhanh chóng. Công nghệ nhúng cho phép doanh nghiệp ứng dụng trên mọi các thiết bị để phục vụ nhân viên, đối tác và khách hàng. Điện toán đám mây tiếp tục là xu hướng để doanh nghiệp triển khai các ứng dụng, phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các bước triển khai dịch vụ điện toán đám mây DRED Cloud Service bao gồm:

Giai đoạn nắm bắt quan niệm (Cloud Discovery Workshop) sẽ cung cấp cho lãnh đạo doanh nghiệp các khái niệm và quan niệm về cloud computing của DRED, cơ hội và lợi ích mang lại, khả năng quản trị, bảo mật an ninh hệ thống…

Sau khi quyết định vai trò các cá nhân trong tổ chức hệ thống cloud sẽ tiến hành giai đoạn Roadmap (lộ trình). Giai đoạn này sử dụng công cụ tự động chuyển đổi kế hoạch, DRED sẽ cùng với doanh nghiệp xác định các đám mây mong muốn của tổ chức (private (đám mây riêng) – public (đám mây công cộng) – hybrid cloud (đám mây hỗn hợp)), phân tích chi tiết thông qua cách quản lý dịch vụ, kiến trúc kỹ thuật, văn hóa, nhân viên, cách thức quản trị và các lĩnh vực khác. Công cụ này cũng tạo ra phân tích chi tiết của các mô hình nghiệp vụ và ROI. Mục tiêu đội ngũ CNTT nắm bắt được chiến lược đám mây của tổ chức để tạo ra một lộ trình và thực hiện các dự án theo đúng tiến độ.

Giai đoạn thiết kế (Design), các chuyên gia DRED thực hiện phân tích chi tiết kỹ thuật và nghiệp vụ doanh nghiệp dựa trên kiến trúc DRED chuẩn. Kiến trúc này hoạt động như một khuôn khổ chung cho tất cả các cam kết khách hàng với DRED bao gồm các thiết bị, cài đặt công nghệ, phần mềm quản lý và các yêu cầu dịch vụ đám mây có lien quan. Ngoài ra, còn có dự toán, kế hoạch thực hiện một cách đầy đủ và một bộ quá trình thực hành chuẩn (best practice) của ITIL3…

Đảm bảo an ninh hệ thống (Security Analysis); Thực thi và hỗ trợ cho hạ tầng điện toán mây (DRED Converged Infrastructure Service); Triển khai các ứng dụng phần cứng, phần mềm dịch vụ tích hợp trên các đám mây nội bộ doanh nghiệp (Cloud Start Solution); Dịch vụ hỗ trợ, đào tạo (Support and Education Service). DRED có kinh nghiệm về việc triển khai cho doanh nghiệp, điều này sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp khi chuyển đổi sang mô hình điện toán đám mây.

14 thg 3, 2011

Giải pháp phân tích kinh doanh trên mạng xã hội

Ngày 14/3/2011 tại Hà Nội. DRED Ad Network giới thiệu giải pháp giúp các doanh nghiệp thấu hiểu khách hàng nhờ áp dụng nền tảng phân tích, công cụ kinh doanh trên mạng xã hội.

Sáng kiến “Hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội - Social Business” với dịch vụ DRED Customer Experience Suite được thiết kế để giúp các tổ chức đổi mới phương thức cộng tác bên trong tổ chức, và phương thức tương tác với khách hàng thông qua Web và các thiết bị di động. Những giải pháp này giúp doanh nghiệp khai thác những lợi ích từ hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội.

Cụ thể, giải pháp cung cấp công cụ phân tích, quản lý nội dung web, cổng thông tin, ứng dụng tổ hợp (mashups) và di động (mobile). Nhờ đó, doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng, tiến hành các hoạt động quảng cáo và tiếp thị theo hướng cá nhân hóa nhằm giữ chân những khách hàng trung thành. Các giải pháp này còn giúp các tổ chức hiểu rõ hơn và tác động đến những người truy cập thông qua những trải nghiệm tương tác được cá nhân hóa, dựa trên blog, diễn đàn thảo luận, chức năng video và di động.

Kinh doanh trên mạng xã hội đang trở thành xu thế toàn cầu. Với các giải pháp của DRED Ad Network, các doanh nghiệp có thể khám phá những cách thức mới để nâng cao kết quả kinh doanh, đạt được sự thấu hiểu và tin tưởng của khách hàng, và phát triển các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ.

Trên thực tế, phần mềm kinh doanh trên mạng xã hội đang được ứng dụng ngày càng phổ biến tại trong doanh nghiệp. Thị trường dành cho các nền tảng xã hội toàn cầu được dự đoán là tăng mạnh mẽ trong những năm tới. Dựa trên những thông tin đó, DRED Ad Network công bố sáng kiến về “Hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội - Social Business"

DRED Ad Network dự định cung cấp một phiên bản hoạt động trên điện toán đám mây tạo ra một nền tảng xã hội để doanh nghiệp có thể cộng tác dễ dàng khi xử lý các tài liệu trên nền tảng điện toán đám mây.

Điều làm cho DRED Customer Experience Suite trở nên nổi bật là sự tích hợp chặt chẽ của giải pháp này với dịch vụ của DRED như REDFLY và CANARY. Các tác giả có thể cùng soạn thảo tài liệu theo thời gian thực hoặc làm việc độc lập, lưu trữ và chia sẻ các tài liệu, bình luận, chat và quản lý các phiên bản cùng với nhau.